Trường của chúng ta

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Mr Lê Xuân Long)
  • (lxlong76@gmail.com)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Để trở thành 1 học sinh giỏi toàn diện?
    Siêng năng, Chăm học
    Vâng lời thầy cô-Cha mẹ
    Luôn nổ lực hết mình
    Cả ý kiến 1, 2 và 3
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    Chu_de_den.flv Tai_sao_doi_treo_minh_chuc_dau_xuong_khi_dau.flv Tap_tinh_xa_hoi_cua_loai_ong__sinh_hoc_11.flv TAP_TINH_SAN_MOI_CUA_RAN.flv TAP_TINH_CUA_LOAI_KIEN.flv Tap_tinh_mot_so_bo_sat_lon.mp3 Em_Nhu_Chim_Bo_Cau_Trang.flv Chu_tin_khoanhkhackydieuvnflv.flv Video_con_hieu_thao.flv Nhung_tam_guong_vuot_len_so_phan.flv IMG_2789.JPG IMG_2787.JPG IMG_2785.JPG IMG_2781.JPG IMG_2777.JPG 09_Vuong_Trieu_Nha_Tran__Tran_Thanh_Tong_P2.flv THAY_CHU_VAN_AN.flv Vua_quan_an_choi.png Unit7_B4.mp3 Unit7_B2.mp3

    mình chia tay nhé

    Chào mừng quý vị đến với website của TRƯỜNG THCS SUỐI NGÔ

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > 33_Sự kiện Tiêu điểm > Hướng về biển đông >

    Vấn đề biển Đông

    Việt Nam là một quốc gia biển. Diện tích vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam rộng 1.000.000 km². Với diện tích ấy, cùng với đường bờ biển dài 3.260 km và trên 3.000 hòn đảo, nằm cạnh các tuyến đường biển giao thông quốc tế huyết mạch, Việt Nam có vị trí địa - chiến lược quan trọng ở Đông Nam châu Á và Biển Đông. Trong thế kỷ XXI - “kỷ nguyên đại dương”, biển càng có ý nghĩa to lớn, sống còn đối với công cuộc chấn hưng dân tộc và hiện đại hóa đất nước ta.

    Trong những năm gần đây, cuộc tranh chấp chủ quyền và quyền lợi biển gây nên tình hình căng thẳng phức tạp tại vùng biển này. Biển Đông trở thành vấn đề thời sự.


    800px-Mui NeBiển Đông nhìn từ Mũi Né

     

    Khi viết về vấn đề Biển Đông, tôi gặp ba cái khó đáng kể. Trước hết, tài liệu vừa nhiều, vừa thiếu. Cuộc tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông kéo dài mấy chục năm, ngày càng có nhiều bên tham gia, dính líu, can dự. Hồ sơ tích tụ không ít, nhưng vẫn có khoảng trống về thông tin tư liệu.

    Song, đối với một vấn đề có nội dung rộng lớn, cái khó là làm sao có được một cấu trúc mạch lạc, một cái nhìn thông suốt. Tôi thường viết trong đầu trước khi viết bằng bàn phím. Viết trong đầu một bài phân tích, bình luận trên vài trang giấy dĩ nhiên là dễ hơn viết một cuốn sách. Nhưng phương pháp chỉ là một - trước hết phải làm chủ được cấu trúc, rồi mới làm đến ý, tứ, câu, chữ,... Với phương pháp đó, tôi mong muốn đem lại một cách tiếp cận về vấn đề Biển Đông, phác họa nội dung cơ bản liên quan đến vấn đề kéo dài, phức tạp, nhiều bên, nhiều chiều này. Các sự kiện chính yếu khi được xâu chuỗi lại sẽ cho thấy bản chất, cũng như quy luật vận động trong chính sách của mỗi quốc gia liên quan vấn đề Biển Đông. Từ bản chất ấy có thể thấy chiều hướng phát triển của sự việc, hiểu các hiện tượng, đồng thời cũng giúp xua tan màn sương mù với vô vàn lời hay, ý đẹp của giới chính trị ngoại giao để thấy chủ trương, thủ đoạn và đối sách mỗi bên liên quan trong vấn đề Biển Đông.

    Van de Bien DongTôi tiếp cận vấn đề Biển năm 1989, với bài bình luận “Đừng để Biển Đông nổi sóng” trên Tạp chí Quan hệ Quốc tế của Việt Nam. Đó là sau các sự kiện Trung Quốc chiếm giữ sáu bãi cạn của Việt Nam ở Trường Sa. Nhưng Biển Đông thực sự nổi sóng lớn khi những cuộc tranh chấp chủ quyền phát triển lên cường độ cao từ năm 2009. Năm 2010, tại Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) tổ chức ở Hà Nội, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton thu hút sự quan tâm của dư luận thế giới khi tuyên bố rằng, tự do hàng hải trên Biển Đông thuộc “lợi ích quốc gia” của Mỹ. Thời điểm này, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang gây chấn động lớn đến hầu hết các nền kinh tế chủ yếu trên thế giới. Kinh tế Mỹ suy thoái trầm trọng và chỉ số thất nghiệp rơi tự do, trong khi về đối ngoại nước Mỹ vướng vào cuộc chiến tranh tại Irắc và Ápganixtan. Đó thực sự là một cuộc “khủng hoảng kép”. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc càng bộc lộ sự yếu đi của nước Mỹ với tư cách một siêu cường thế giới.

    Những năm 2009-2013 đánh dấu thời điểm Trung Quốc đẩy mạnh cuộc tranh chấp Biển Đông ở cường độ cao. Ngày 7-5-2009, lần đầu tiên Trung Quốc chính thức hóa yêu sách đường lưỡi bò. Yêu sách này chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông, nhưng không dựa trên bất kỳ một cơ sở pháp lý nào. Nửa đầu năm 2010, Trung Quốc bắt đầu đưa Biển Đông vào phạm trù “lợi ích cốt lõi”. Trung Quốc thực hiện các bước đi được tính toán sâu xa, cụ thể hóa các đòi hỏi về đường lưỡi bò 9 đoạn, trong nỗ lực - như lời Daniel Schaeffer, một viên tướng người Pháp đã về hưu, từng là tùy viên quân sự tại Đại sứ quán Pháp ở Việt Nam, Thái Lan và Trung Quốc - “lãnh địa hóa” Biển Đông. Ngoài các mục tiêu kinh tế khai thác nguồn tài nguyên biển cả và dầu khí được xem là dồi dào, thì mục tiêu quân sự hết sức quan trọng. Các tàu ngầm hạt nhân đặt căn cứ ở Tam Á thuộc đảo Hải Nam sẽ triển khai một cách an toàn hơn tại vùng nước sâu nhất của Biển Đông. Mạng tin Nhân dân (Trung Quốc) dẫn trả lời phỏng vấn Tân Kinh báo ngày 29 tháng 11 của chuyên gia quân sự Trung Quốc Tống Trung Bình cho biết, căn cứ hàng không mẫu hạm Tam Á là một quân cảng tổng hợp loại lớn, không những có thể làm căn cứ cho tàu sân bay đồn trú mà còn có khả năng thu nạp tất cả các quân hạm khác. Theo Tống Trung Bình, phạm vi khống chế của căn cứ hàng không mẫu hạm Tam Á bao gồm cả biển Hoa Nam (Biển Đông) và đây là yêu cầu đối với căn cứ này. Tân Hoa xã còn cho biết sáng 29 tháng 11, tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc Liêu Ninh đã tiến hành diễn tập cập cảng lần đầu tiên tại quân cảng ở Tam Á[1].

    Sự cố Impeccable - tàu thăm dò đáy đại dương của hải quân Mỹ, xảy ra ngày 8-3-2009 bị các tàu thuyền Trung Quốc cản trở trên vùng biển cách đường cơ sở phía ngoài đảo Hải Nam của Trung Quốc 120 km. Tàu này thuộc Bộ Tư lệnh vận tải quân sự trên biển của Mỹ, dùng để thu thập các thông tin tình báo về địa hình đáy biển, thủy văn, âm thanh nước, hải lưu nước sâu, dùng để phân tích nghiên cứu phạm vi hoạt động tiềm năng, đường ra vào cho lực lượng dưới nước như tàu ngầm ở các vùng biển có liên quan. Biển Đông trở thành một trong các hướng phòng thủ từ xa của các lực lượng vũ trang Mỹ và Mỹ quyết tâm thiết lập hệ thống phòng thủ tên lửa, trong đó Đông Nam Á/Biển Đông là một bộ phận của một hệ thống nối từ Bắc Nhật Bản tới biển Tây Philíppin. Biển Đông thành nơi “ngọa hổ tàng long”.

    Kể từ khi Bắc Kinh chính thức đòi chủ quyền đối với phần lớn các vùng biển xung quanh Trung Quốc từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á, hệ quả là các vụ đụng độ và xung đột xảy ra với các nước láng giềng không ngừng gia tăng. Biển Đông từ vấn đề của quan hệ song phương đã trở thành vấn đề khu vực với sự tham gia của ASEAN và từ năm 2010 trở thành vấn đề quốc tế. Nó liên quan chủ quyền biển đảo, luật pháp quốc tế, kinh tế và an ninh hàng hải quốc tế. Đây là một trong các cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo phức tạp nhất trên thế giới, không chỉ liên quan đến nhiều nước ven bờ Biển Đông, mà còn liên quan đến lợi ích địa - chính trị của nhiều nước ở châu Á - Thái Bình Dương và hầu hết các nước lớn trên thế giới.

    Nhìn xa hơn vấn đề Biển Đông, thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dương. Vấn đề tự do và an toàn giao thông hàng hải được chú trọng đặc biệt, khi xuất hiện những cường quốc hải dương mới tác động đến trật tự biển quốc tế, cùng với sự tăng cường nhận thức rằng các tuyến giao thông trên biển không chỉ kết thúc trong một khu vực, mạng lưới giao thông hàng hải là huyết mạch của cả một khu vực thống nhất, mở rộng xa ra ngoài khu vực châu Á - Thái Bình Dương tới các vùng biển thuộc châu Đại Dương, Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Hợp tác, cạnh tranh, xung đột diễn ra gay gắt. Nước nhỏ có biển ra sức bảo vệ đường biên giới biển như là không gian sinh tồn của quốc gia. Nước lớn tìm cách mở rộng ranh giới biển thông qua tranh chấp và xung đột để tối đa hóa vùng lãnh hải phục vụ chiến lược cường quốc biển.

    Đối với Bắc Kinh, Biển Đông là trọng điểm của chiến lược xây dựng Trung Quốc thành “cường quốc biển”, được Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc tái khẳng định. Báo cáo chính trị của Đại hội XVIII, ngày 8-11-2012, viết: “Nâng cao năng lực khai thác tài nguyên biển, phát triển kinh tế biển, bảo vệ môi trường sinh thái biển, kiên quyết bảo vệ quyền và lợi ích biển quốc gia, xây dựng cường quốc biển”. 

    Tờ Thời báo Hoàn cầu đã đăng một bài của Trịnh Vĩnh Mạn, Viện trưởng Viện Đông Á, Đại học quốc gia Xingapo. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của Biển Đông như “đường huyết mạch” đối với chiến lược hải dương của Trung Quốc, đồng thời đặt câu hỏi: “Trung Quốc phát triển thành cường quốc hải dương qua con đường nào? Qua Ấn Độ Dương chăng? Rất ít khả năng, vì không có đường nối trực tiếp giữa Trung Quốc với Ấn Độ Dương, mặc dù một số chiến lược gia nói nhiều về việc thiết lập con đường ấy qua Mianma, nhưng có rất nhiều yếu tố không chắc chắn. Mianma đang tìm cách tối đa hóa lợi ích quốc gia của họ. Họ từng phụ thuộc vào Trung Quốc nhưng hiện tại đang tìm cách xây dựng quan hệ với Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ… Ấn Độ tất nhiên không thể để cho Trung Quốc dùng Ấn Độ Dương làm bàn đạp trở thành cường quốc biển… Nhìn đi nhìn lại, hy vọng của Trung Quốc trở thành cường quốc hải dương đặt cả vào Biển Đông… Biển Đông là đường huyết mạch của Trung Quốc. Không có Biển Đông, chủ trương địa chính trị hải dương của Trung Quốc hầu như không tồn tại”[2].

    Nhằm kiểm soát Biển Đông như phần quan trọng nhất để mở rộng không gian biển cho mục tiêu xây dựng Trung Quốc thành “cường quốc biển”, Bắc Kinh đã tích cực thực hiện phương châm, được giới học thuật Trung Quốc khái quát thành chín chữ: “Bảo cận ngạn, tranh cận hải, xuất viễn dương” (giữ gần bờ, tranh biển gần, ra đại dương). Để đạt được mục đích của mình, Trung Quốc không ngần ngại gây sức ép với các nước láng giềng. Thời gian gần đây, Bắc Kinh cho thực hiện hai chủ trương: cấp hộ chiếu in đường lưỡi bò 9 đoạn bao trùm hầu hết Biển Đông và nhà đương cục Trung Quốc của tỉnh Hải Nam thông qua “Điều lệ quản lý trị an biên phòng ven biển tỉnh Hải Nam” quy định công an biên phòng Trung Quốc có thể “lên tàu, kiểm tra, bắt giữ, trục xuất, ra lệnh dừng tàu, đổi hướng và trở về”, có hiệu lực kể từ ngày 1-1-2013. Đây là một nỗ lực nhằm áp đặt luật chơi của Trung Quốc. Khi quá trình ấy hoàn thành, một “trật tự Biển Đông” sẽ do Trung Quốc chủ đạo.

    Nhưng như một phương ngôn Trung Quốc "Sinh sự ắt sự sinh", chính sự leo thang tranh chấp của Trung Quốc tại Biển Đông đã thúc đẩy các nước lớn khác tái can dự vào vùng biển này. Sau 20 năm rút khỏi các căn cứ quân sự Subic và Clark của Philíppin, Mỹ đã trở lại thông qua các chương trình hợp tác quốc phòng trong liên minh, trong đó có việc tăng sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Philíppin. Washington và Manila đang ở giai đoạn cuối tiến tới đạt được một hiệp định thỏa thuận khung bền vững và lâu dài cho phép có thêm các binh sĩ, máy bay và tàu chiến của Mỹ hiện diện tại quốc gia bên bờ Biển Đông này. Đây là điều Bắc Kinh không mong muốn.

    Việc hải quân Mỹ gia tăng năng lực kiểm soát eo biển Malacca đã thúc đẩy Trung Quốc ngày 23-11-2013 thiết lập Vùng Nhận dạng Phòng không (ADIZ) trên biển Hoa Đông. Phạm vi ADIZ tiếp cận tuyến đường qua eo biển Miyako (của Nhật Bản) cho thấy hạt nhân đối kháng Trung - Nhật đã phát triển từ khu vực đường trung tuyến Trung - Nhật trên biển Hoa Đông về hướng đảo Miyako. Một trong các mục tiêu dài hạn của Trung Quốc là tạo lối ra Thái Bình Dương cho chiến hạm nổi và tàu ngầm hạt nhân của Trung Quốc, tránh bị phụ thuộc vào eo Malacca.

    Nước Mỹ trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Barack Obama đóng một vai trò quan trọng trong vấn đề Biển Đông, một bộ phận của chính sách xoay trục ở châu Á - Thái Bình Dương. Nước Mỹ yếu hơn trước nên càng cần can dự hơn trước vào khu vực trọng yếu trong “kỷ nguyên Thái Bình Dương” thế kỷ XXI. Nhưng sự can dự này là có chọn lọc. Mở đầu bằng một tuyên bố của bà Hillary Clinton, người đứng đầu ngành ngoại giao Hoa Kỳ, tại Diễn đàn ARF Bangkok 2009, “trở lại châu Á” đã phát triển thành một chính sách can dự toàn diện của chính quyền Obama từ cuối năm 2010.

    Các nước lớn liên quan khác như Nga, Nhật Bản, Ấn Độ cũng tích cực can dự, góp phần hình thành nên cục diện cân bằng quyền lực đa dạng hóa tại Biển Đông.

    Thứ hai, khi viết về vấn đề Biển Đông, phải tiết chế ngòi bút để giữ được tính khách quan và khoa học của các nội dung cuốn sách. Biển Đông là vấn đề nhạy cảm. Chủ quyền biển đảo là thiêng liêng đối với mỗi người Việt Nam. Hàng ngày, ngư dân Việt Nam bị thế lực nước ngoài trấn áp, nhiều khi đổ máu trên chính những ngư trường mà hàng ngàn năm qua cha ông họ đời nọ tiếp nối đời kia kiếm sống trên sóng nước mà không hề gặp bất kỳ sự cấm đoán nào.

    Vấn đề Biển Đông tạo ra nhiều phức tạp trong quan hệ Việt - Trung, chưa có tiền lệ trong lịch sử bang giao giữa hai nước. Ngoại giao truyền thống Đại Việt và ngoại giao Hồ Chí Minh có rất nhiều chứng liệu và bài học quý về quan hệ với Trung Quốc, có thể đem lại những chỉ dẫn về phương pháp luận. Người Việt Nam đương thời cần tiếp tục tìm hiểu và phân biệt hiện tượng và bản chất, đưa ra những kết luận và đối sách phù hợp với một chương lịch sử đặc biệt của quan hệ Việt - Trung, đặc trưng bởi “lục hoãn hải khẩu” (trên đất liền hòa hoãn, dưới biển xung đột) - như giới học thuật Trung Quốc gọi nó.

    Mặt khác, Biển Đông là một phần của bức tranh an ninh và phát triển và của các quan hệ quốc tế rộng lớn của Việt Nam. Chúng ta vì Biển Đông mà hành động. Đồng thời, phải từ Biển Đông mà tối đa hóa lợi ích an ninh và phát triển của nước ta.

    Cuối cùng, cái khó nhất về nội dung là về vấn đề giải pháp Biển Đông. Có chăng một giải pháp như vậy?

    Vấn đề Biển Đông đã tốn rất nhiều giấy mực của các học giả, nhà nghiên cứu. Nhưng sau 10 năm thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), được các nước ASEAN và Trung Quốc ký ngày 4-11-2002 tại Phnôm Pênh, con đường để đạt tới một bộ quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông (COC) đầy quanh co, khúc khuỷu.

    Các nước ASEAN cùng với Trung Quốc bắt đầu quá trình đàm phán về một bộ quy tắc ứng xử mang tính ràng buộc giữa các bên tại Biển Đông (COC); cộng đồng quốc tế cũng hỗ trợ cho việc tìm ra một giải pháp theo hướng này. Nhưng bao giờ giải pháp như vậy chín muồi? Sẽ tiến tới một giải pháp tổng thể, cục bộ để giải quyết cuộc xung đột hay chỉ đơn giản là những nguyên tắc quản lý cuộc xung đột?

    Cuộc hành trình xem ra vẫn còn khó khăn, lâu dài. Và cho đến khi có được một kết cục có hậu nào đó, tác giả vẫn còn nợ một kết luận quan trọng cho cuốn sách này.

    Người ta vươn đến sự hoàn thiện, đạt được cái tương đối.

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Hoàng Cao Kỳ @ 14:46 16/03/2017
    Số lượt xem: 48
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến